Nhiệt liệt chào mừng thành lập Thành phố Đồng Nai trực thuộc Trung ương!

MỨC ĐỘ NGUY HIỂM CỦA BỆNH LMLM SEROTYPE A ĐỐI VỚI ĐÀN GIA SÚC VÀ CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG, CHỐNG

Thứ ba - 28/07/2026 16:10
  • Xem với cỡ chữ 
  •  
  •  
  •  
Theo thông tin từ Báo cáo số 877/SNNMT ngày 21/7/2029 của Sở Nông nghiệp và Môi trường, trên địa bàn thành phố Đồng Nai đã xuất hiện ổ dịch bệnh LMLM do serotype A đầu tiên ở xã Thiện Hưng; nguy cơ tiếp tục phát sinh và lây lan dịch bệnh trong thời gian tới là rất cao do các đàn gia súc trên địa bàn thành phố chỉ được tiêm phòng với vắc xin LMLM bảo vệ serotype O, không bảo vệ được vi rút LMLM serotype A. Vì vậy, hộ chăn nuôi cần biết mức độ nguy hiểm của bệnh LMLM serotype A và phải thực hiện các biện pháp an toàn sinh học trong chăn nuôi để phòng chống dịch bệnh, bảo vệ đàn vật nuôi, như sau:

 

 

 

Xuất hiện dịch lở mồm long móng giữa lúc nắng nóng | Báo Dân trí

1. Mức độ nguy hiểm của bệnh LMLM serotype A đối với đàn gia súc

+ Tốc độ lây lan chóng mặt: Virus lây lan cực kỳ nhanh qua tiếp xúc trực tiếp giữa động vật ốm và khỏe, hoặc gián tiếp qua không khí (virus có thể bay xa hàng kilomet theo gió), thức ăn, nước uống, xe cộ vận chuyển. Con người (qua quần áo, giày dép, dụng cụ chăn nuôi) cũng có thể trở thành vật mang mầm bệnh cơ học phát tán virus đi xa. Virus LMLM có thể tồn tại rất lâu trong môi trường tự nhiên (đất, rơm rạ, phân, nước tiểu) và trong các sản phẩm động vật chưa được xử lý nhiệt triệt để.

+ Thiệt hại kinh tế tàn khốc cho ngành chăn nuôi: Mặc dù tỷ lệ chết ở động vật trưởng thành thấp (chỉ khoảng 1-5%), bệnh gây ra các mụn nước, vết loét nghiêm trọng ở niêm mạc miệng, lưỡi, vú và kẽ móng. Vật nuôi bị đau đớn, bỏ ăn, què quặt, dẫn đến sụt cân nghiêm trọng, mất sức kéo và sụt giảm sản lượng sữa đột ngột ở bò sữa. Đối với gia súc non (bê, nghé, lợn con, cừu con), virus LMLM thường tấn công vào cơ tim (gây viêm cơ tim), làm vật nuôi chết đột tử với tỷ lệ rất cao. Khi dịch bùng phát, chi phí để tiêu hủy đàn vật nuôi mắc bệnh, tiêu độc khử trùng toàn bộ khu vực, và triển khai tiêm phòng bao vây là một gánh nặng cực kỳ lớn đối với người chăn nuôi và chính quyền địa phương

2. Các biện pháp an toàn sinh học trong chăn nuôi để phòng chống dịch bệnh, bảo vệ đàn vật nuôi

+ Quản lý chuồng trại và khu vực chăn nuôi: Phải xây dựng khu vực chăn nuôi tách biệt hoàn toàn với nhà ở hoặc nơi sinh hoạt của con người. Nền chuồng phải cao ráo, dễ thoát nước và dễ dàng làm vệ sinh; Cần chia trại thành các khu vực chức năng riêng biệt: khu chăn nuôi, khu vệ sinh khử trùng, khu cách ly (dành cho vật nuôi mới nhập hoặc vật nuôi bị ốm) và khu xử lý chất thải; Bắt buộc phải có hố khử trùng hoặc giàn phun sát trùng tại lối ra vào khu chăn nuôi, trước mỗi dãy chuồng và phải thay/bổ sung chất sát trùng hàng ngày. 

+ Lựa chọn và quản lý con giống: Chỉ nhập con giống khỏe mạnh, có nguồn gốc rõ ràng từ cơ sở an toàn dịch bệnh và đã được tiêm phòng đầy đủ các loại vắc-xin theo quy định. Đối với vật nuôi nhập từ ngoài tỉnh, bắt buộc phải có Giấy chứng nhận kiểm dịch. Vật nuôi mới mang về phải được nuôi cách ly ít nhất 14 ngày để theo dõi trước khi cho nhập đàn. 

+ Quản lý thức ăn và nước uống: Thức ăn phải có nguồn gốc rõ ràng, không bị nấm mốc, vón cục hay quá hạn sử dụng. Kho chứa phải thông thoáng, kê cao (cách mặt nền và tường ít nhất 20cm), không để lẫn hóa chất, thuốc sát trùng cùng nơi bảo quản thức ăn; Phải vệ sinh sạch sẽ máy trộn; ưu tiên trộn mẻ thức ăn không chứa thuốc trước, mẻ có thuốc trộn sau: Cung cấp đủ nước sạch, an toàn hợp vệ sinh cho vật nuôi uống tự do. Nước dùng vệ sinh chuồng trại tuyệt đối không dùng nước ao bị ô nhiễm hoặc nước thải sinh hoạt. 

+ Chăm sóc, vệ sinh và an toàn sinh học: Tuân thủ 3 nguyên tắc cốt lõi: Cách ly (ngăn mầm bệnh xâm nhập), Làm sạch (loại bỏ chất bẩn vật lý) và Khử trùng (tiêu diệt mầm bệnh); Người chăn nuôi phải rửa tay, thay quần áo bảo hộ, đi ủng/giày của trại và lội qua hố sát trùng trước và sau khi ra vào khu vực chăn nuôi; Đi từ khu vực sạch đến khu vực bẩn; từ khu nuôi con non sang khu nuôi con trưởng thành để tránh lây nhiễm chéo; Rửa sạch máng ăn, máng uống hàng ngày. Thường xuyên phát quang bụi rậm, khơi thông cống rãnh, phun thuốc khử trùng bên ngoài và bên trong chuồng nuôi; Sau khi xuất bán hoặc kết thúc một lứa nuôi, phải tổng vệ sinh, tiêu độc khử trùng toàn bộ chuồng trại, tháo rời dụng cụ ngâm rửa, sau đó để trống chuồng (ít nhất 7-14 ngày tùy loại vật nuôi) trước khi nhập đàn mới. 

+ Kiểm soát người, phương tiện và động vật gây hại: Hạn chế tối đa người ngoài vào trại. Khách tham quan phải đăng ký, cách ly không tiếp xúc với thịt/vật nuôi sống 72 giờ trước khi vào, đồng thời phải tắm rửa và mặc đồ bảo hộ của trại; Xe cộ không có phận sự không được vào trại. Xe chở cám, xe bắt vật nuôi phải được phun khử trùng kỹ càng ngay tại cổng trại;  Không nuôi thả rông chó, mèo, gia cầm khác trong trại. Định kỳ phun thuốc diệt muỗi, ruồi, đặt bẫy chuột và lưới chống chim. 

+ Xử lý chất thải và xác vật nuôi: Chất thải hữu cơ phải được thu gom và xử lý bằng các phương pháp an toàn như ủ compost, hầm biogas, hoặc dùng chế phẩm sinh học. Nước thải phải được dẫn theo hệ thống cống kín về khu xử lý riêng, tuyệt đối không xả tràn lan ra môi trường. Động vật chết do dịch bệnh hoặc chất thải y tế nguy hại phải được gom riêng, chôn lấp và rắc vôi hoặc tiêu hủy đốt theo đúng quy định của thú y; nghiêm cấm vứt xác ra môi trường. 

+ Nhiệm vụ về ghi chép sổ sách: Người chăn nuôi có trách nhiệm kê khai chăn nuôi và lập sổ sách ghi chép, lưu trữ hồ sơ ít nhất 1 năm sau khi kết thúc đợt nuôi. Các thông tin cần ghi chép hàng ngày bao gồm: Theo dõi nguồn gốc, số lượng giống khi nhập; Theo dõi việc mua và lượng tiêu thụ thức ăn, nước uống; Theo dõi tình trạng sức khỏe đàn, nhật ký sử dụng thuốc thú y, vắc-xin, thuốc sát trùng; Sổ xuất bán sản phẩm và sổ ghi chép lượng khách ra vào trại ... 

 

           

Tác giả: UBND xã Xuân Phú, Xuân Trang - Phòng Kinh tế

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây